khaocoviet
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 


Rechercher Advanced Search

Latest topics
Affiliates
free forum

Đăng Nhập

Quên mật khẩu


Văn hóa Ngưỡng Thiều (Phần 2)

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

Văn hóa Ngưỡng Thiều (Phần 2)

Bài gửi by diepkhaoco52 on Wed Jun 26, 2013 9:36 pm

[b style="mso-bidi-font-weight: normal;"]Đặc trưng của văn hóa Ngưỡng Thiều:[/b]

[b style="mso-bidi-font-weight: normal;"]Nông nghiệp của cư dân Ngưỡng Thiều[/b]
Trồng trọt

Người Ngưỡng Thiều kế thừa tiền nhân làm nông, trồng trọt, hoạt động sản xuất chính với các giống loài chịu vùng khô hạn như kê, lương. Tại nhiều di tích chúng ta bắt gặp kê, cao lương trong các chum, vò chất thành đống trong hầm chứa. Kê là cây trồng phổ biến ở Bán Pha, Bắc Đầu Lĩnh, Tuyền Hộ Thôn, Hà Mạnh Thôn, Vương Loan,… Tàn tích cao lương được ghi nhận tại các di tích Tần Vương Trại, Hạ Vương Cương,… Ngoài ra, còn có những vò đựng hạt cải trắng, các cây lương thực chưa xác định loài,… Nông nghiệp giai đoạn này còn ở dạng nguyên thủy và công cụ dùng để canh tác phát triển qua 2 giai đọan:

      Sơ kỳ: Công cụ bằng gỗ như gậy có đầu nhọn (chọc lỗ), công cụ rìu đá phần lớn dày,nặng, mặt cắt hình bầu dục thích hợp cho việc chặt cây và khai khẩn. Công cụ chế biến  - thu hoạch có dao, liềm đá, gia công lương thực có bàn mài, chày, cối,..

      Trung kỳ và hậu kỳ: Công cụ sản xuất có tiến bộ nhất định: Xẻng đá mài nhẵn có hình lưỡi liềm hay hình trái tim. Ở di chỉ Đại Trương và Đại Hà Thôn có xẻng có vai hoặc các phiến đá dài cỡ lớn mài nhẵn toàn thân, có dao đá hình chữ nhật làm công cụ thu hoạch.

Chăn nuôi, hái lượm, đánh bắt thủy sản

Chăn nuôi: Thuần dưỡng được các loại động vật phổ biến như chó, heo bên cạnh đó còn thuần dưỡng được các loại hiếm như dê, ngựa và có thể đã thuần dưỡng được gà.

Hái lượm: Các loại rễ cây, trứng chim, mật ong,…

Săn bắn: Tìm thấy nhiều di vật mũi tên các loại (xương, sừng, đá) dùng phổ biến để săn bắn cùng với các di cốt thú như hươu, chuột, thỏ, linh dương,,…

Đánh bắt thủy sản: Lao ngạnh chế tạo tinh xảo, lưỡi câu bằng xương, chì gốm làm công cụ để giăng lưới đánh cá, thả câu, ném phóng xiên cá,… cùng với xương cá, hình vẽ trên gốm.

[b style="mso-bidi-font-weight: normal;"]Kiến trúc nhà ở của cư dân văn hóa Ngưỡng Thiều[/b]
Ở Ngưỡng Thiều đã khai quật khoảng 400 căn nhà. Nhà hướng về phía nam là chủ yếu, khu cư trú ở giữa xóm (vị trí trung tâm quan trọng). Bố trí ngay ngắn, hình tròn hướng tâm vào nhà công cộng (loại bố cục với loại hình hướng tâm gợi ý về sợi dây liên kết huyết thống trong thị tộc mẫu hệ). Loại nhà thường thấy trong văn hóa Ngưỡng Thiều là kiểu nhà có bố cục tròn hoặc vuông có nền chìm xuống 1m dưới lòng đất, dựng cột làm tường, đến hậu kỳ xuất hiện thêm loại nhà vuông – chữ nhật trên mặt đất có nhiều gian, tạo rãnh chôn cột để giữ tường. Nhà ở của văn hóa Ngưỡng Thiều thường xây dựng gần sông, nhất là khu vực hợp lưu giữa 2 con sông Hoàng Hà và Trường Giang. Trên vùng đất cao bằng phẳng dễ dàng cho tưới tiêu và sinh hoạt. Tuy nhiên nhà ở của Ngưỡng Thiều chia thành 3 loại nhà tiêu biểu:
Ø  Nhà loại hình Bán Pha, Sử Gia: Chủ yếu là loai hình tròn – vuông, đặc điểm nổi bật là nền lõm xuống mặt đất khoảng 100cm, có vách tường và bậc đi xuống. Diện tích mỗi căn khoảng 10 – 20 m2 có căn vuông tới 160m2. Thông thường chính giữa nhà ở có một bếp đối diện với cửa, trong bếp thường còn lưu lại một vò gốm có chứa cát bên trong để giữ lửa. Có căn ở hai bên cửa dựng hai bức tường nhỏ và thấp, có căn ở phần trung gian giữa cửa và phòng có một hố nhỏ (Môn Khảm) hình vuông. Nền cư trú và mặt tường đều trét bùn, cỏ, rơm đốt nóng lại cho chắc. Xung quanh các căn phòng hình tròn có dày đặc các lỗ cột để dựng vách cho chắc, giữa phòng có 2 – 6 trụ chính để đỡ đỉnh nhà.
Ø  Nhà loại hình Miếu Để Câu: 20 căn gần hình chữ nhật, có kiến trúc giống với Bán Pha nhưng cũng có căn xây trên mặt đất. Ở đây họ không đào đất xung quanh mà chỉ đào một đường và để dựng móng cho chắc chắn, xuất hiện phương pháp mới là dùng những khối đất nung màu đỏ, cuội để lát và gia cố trên nền. Các hố cột cũng chèn thêm cuội cho vững. Nền cư trú và mặt tường trát đất, cỏ; ở giai đoạn sau có hiện tượng quét vôi trắng trên tường để chống ẩm và tạo cho tường độ sáng cần thiết.
Ø  Nhà loại hình Tần Vương Trại: 20 căn hình vuông – chữ nhật, cũng có kiến trúc giống nhà loại hình Miếu Để Câu. Hình thức tiêu biểu của kỹ thuật xây dựng là các căn nhà không phải có 1 gian như trước nữa mà có 2,3,4 gian liền với nhau, mỗi gian đều có cửa hướng ra phía nam hoặc phí bắc. Ví dụ như nhà ở Đại Hà Thôn có hình chữ nhật 4 gian, diện tích từ 2 – 20m2 cửa hướng ra phía nam. Họ đã tạo rãnh giữa các móng để chôn cột giữ tường dùng lau sậy chằng cho chắc rồi trát bùn lên. Trong mỗi phòng đều có bếp lò, ngoại trừ phòng nhỏ nhất là để trữ lương thực. [b style="mso-bidi-font-weight: normal;"]Cách táng th[/b][b style="mso-bidi-font-weight: normal;"]ức và loại hình mai táng của cư dân Ngưỡng Thiều[/b]
Ở Ngưỡng Thiều tìm thấy khoảng 2000 ngôi mộ trong đó có 1/3 là trẻ em, mộ chôn người lớn chủ yếu thuộc 2 loại hình chính là loại hình Bán Pha và Sử Gia. Ngoài ra còn có loại hình Miếu Để Câu và loại hình Tần Vương Trại.
ü  Loại hình Bán Pha: Đặc điểm cơ bản là đơn táng với nhiều kiểu chôn: Chôn ngửa – chi thẳng, chôn úp – chân co lại. Đặc biệt có loại hợp táng cùng giới tính, đầu quay về hướng nam; tục chôn hai lần (tẩy cốt táng – thi thể chôn nơi khác trong một thời gian cho đến khi cơ thể phân hủy hết mới đem chôn. Họ tin rằng máu thịt của thế gian chỉ khi tẩy sạch mới đi vào thế giới hương hồn). Một số mộ chôn theo đồ tùy táng, xử lý táng thức khác nhau có thể do cách chết khác nhau hoặc thân phận khác nhau. Ở đây còn có tục chặt tử thi (nhiều bộ phận còn thiếu như: đầu, ngón chân, ngón tay nhưng trong đồ gốm tùy táng lại tìm thấy những  thứ đó). Có hai mộ tìm thấy xương chi khác do hiến tế hay do tục hạn chế hành động của người chết. Theo cách táng thức của loại hình Bán Pha thì có 3 di chỉ tiêu biểu đó là di chỉ Bán Pha, Bắc Đầu Lĩnh và Khương Trại
ü   Di chỉ Bán Pha: Có 174 ngôi mộ ở phía bắc phần lớn chôn ngửa – chi thẳng, 5 ngôi mộ đơn táng, 2 ngôi mộ hợp táng cùng giới tính được bố trí thành hàng ngay ngắn. Hơn một nửa có chôn theo đồ tùy táng, nhiều nhất có 17 di vật, trung bình mỗi mộ táng có chôn theo là 5 di vật, không có công cụ sản xuất mà chủ yếu là gốm. Tại đây còn tìm thấy 17 mộ vò trẻ em chôn rải rác xung quanh các ngôi nhà, trong chum có đậy nắp và ghè 1 lỗ thủng ở dưới đáy nhằm mục đích cho linh hồn của người chết được siêu thoát. Riêng một nhóm mộ vò có thi thể là một em gái 4 -5 tuổi chôn như những người khác nhưng được đào huyệt với đồ tùy táng nhiều hơn: có gốm, hạt kê, hạt chuỗi, vòng ngọc.
ü Di chỉ Bắc Đầu Lĩnh: Có 400 khu mộ được chôn ở phía nam trong đó có: mộ chôn người lớn  theo cách chôn ngửa – chi thẳng, chôn hai lần, hợp táng chôn 2 – 3 người. Đáng chú ý có mộ không có di cốt mà chỉ có đồ tùy táng, có mộ một người mất đầu được thay bằng vò gốm vẽ màu, có bộ xương được tô sơn đỏ.
ü  Di chỉ Khương Trại: Có 3 khu mộ táng đều nằm ở hướng đông (đông – đông bắc, đông – đông nam) có thể của 3 thị tộc trong bộ lạc. Cách táng thức ở đây khác Bán Pha ở chỗ: Một số ngôi mộ có nhiều người được chôn hai lần, nhiều trẻ em không chôn quanh nhà mà chôn cùng thị tộc, lại có 2 mộ vò chôn người lớn.
ü Loại hình Sử Gia: Ở loại hình này có sự biến đổi trong phong tục chôn cất đó là sự xuất hiện của nhiều mộ chôn tập thể. Ví dụ như: Nghĩa trang Sử Gia có 43 ngôi thì có 40 ngôi theo kiểu hợp táng hai lần. Vị trí các huyệt được sắp xếp ngay ngắn và có hàng lối. 1 mộ hợp táng nam giới còn các mộ khác hợp táng đủ nam nữ, già trẻ: 4 – 54 người, trung bình từ 20 30 người. Trong cùng một mộ thì đồ tùy táng chôn chung, đa số là các loại đồ dùng sinh hoạt, ít mộ có công cụ sản xuất. Đại diện cho cách táng thức của loại hình Sử Gia là các di chỉ Nguyên Quận Miếu, Khương Trại và Hoàng Chân.
Di chỉ Nguyên Quận Miếu: Có 57 ngôi mộ (46 mộ tập thể chôn hai lần) và được chia thành hai khu: Khu 1 có 45 ngôi chôn thành 6 hàng có hiện tượng hậu táng giữa người già và trẻ em (một người già được chôn ngửa – chi thẳng, quanh huyệt có xếp cuội như áo quan và gốm tùy táng và một em bé có 1147 hạt chuỗi).
Di chỉ Khương Trại: Có 2 lớp mộ Bán Pha và Sử Gia nằm ngay trung tâm nơi cư trú với hơn 180 ngôi mộ người lớn (chủ yếu hợp táng chôn hai lần) được chôn ngay ngắn hoặc lộn xộn. Ngôi mộ nhiều nhất có 70 – 80 bộ xương, đầu quay về hướng tây, đồ tùy táng chôn chung. Ở đây có hiện tượng người chuyên vẽ gốm màu được tùy táng theo nghiền đá, chày, chén nước, 1 cục son. Mộ vò có hơn 40 ngôi, có mộ vò chôn cả người lớn, có 1 mộ chum hợp táng hai mẹ con.

      Di chỉ Hoàng Chân: Có 24 ngôi, 3 hố chôn người tập thể rất đặc biệt: Mỗi hố lớn có 92 bộ xương chia ra 5 – 7 hố nhỏ chôn chung 3 – 12 bộ xương không phân biệt giới tính. Loại hình hợp táng giống Bán Pha nhưng đầu quay về hướng tây.
ü  Loại hình Miếu Để Câu: 29 ngôi ở di tích Vương Loan đa số đơn táng thân ngửa – chi thẳng, đầu quay về hướng tây – bắc, có trường hợp bôi son đỏ lên sọ, đa số không có đồ tùy táng. Có 100 ngôi mộ ở Đại Hà Thôn và Hậu Trang Vương có cùng kiểu tùy táng, nhưng đồ tùy táng dung đồ đựng miệng nhỏ, đáy nhọn.
ü   Loại hình Tần Vương Trại: Táng thức giống Miếu Để Câu, người lớn chôn ngửa – chi thẳng, riêng trẻ em đồ tùy táng chôn theo khá đa dạng, áo quan không chỉ có vò còn đỉnh đáy nhọn, chậu (úp vào nhau). Ở 2 di tích Khâu Công Thành và Thổ Môn còn có chum đặt làm riêng áo quan chôn người lớn. Có hiện tượng người chết được chôn ngay trong hầm chứa cùng với đồ tùy táng, có mộ chỉ còn sọ, có mộ ngoài công cụ sản xuấ và gốmt ra còn chôn theo cả xương chó, heo.

Các tục mai táng biểu hiện người Ngưỡng Thiều quan niệm linh hồn bất diệt, cuộc sống của thế giới bên kia cũng bất diệt. Tục hợp táng minh chứng mối liên hệ huyết thống chặt chẽ trong xã hội Ngưỡng Thiều. Sự thống nhất về hướng chôn thể hiện niềm tin hương hồn sẽ về đất xưa hoặc về với một thế giới khác. Việc mai táng nhìn chung đều dành cho các thành viên trong thị tộc. Các ngôi mộ được sắp xếp ngay ngắn, theo một hàng lối nhất định. Các hình thức hợp táng theo hai giới tính, hợp táng hai lần, nữ hậu táng, hợp táng hai mẹ con. Chế độ mai táng huyệt lớn thể hiện sự phân biệt đại vị khác nhau giữa thị tộc – gia đình. Việc chôn trẻ em không vào nghĩa địa công cộng có thể là tập tục của lễ thành vinh và có sự phân biệt về mặt tuổi tác
[b style="mso-bidi-font-weight: normal;"]Đặc trưng gốm Ngưỡng Thiều[/b]
Gốm là một trong những đặc trưng tiêu biểu nhất về loại hình hiện vật của Ngưỡng Thiều. Gốm Ngưỡng Thiều có một quy trình chọn lựa nguyên liệu rất tỉ mỉ, tạo dáng gần như đã hoàn chỉnh, đặc biệt gốm đã được tô màu. Đa phần màu trên gốm là màu đỏ hoặc màu trắng vẽ trên nền đỏ. Thời sơ kỳ gốm được vẽ màu tím – trắng trên nền đỏ đến trung kỳ có một lớp lót màu đen sau đó được vẽ màu đen – đỏ hoặc màu nâu sẫm, một số có màu đen tô thêm màu trắng ở biên. Qua phân tích cho thấy: màu đỏ lấy từ đá son và màu đen lấy từ đất có hàm lượng sắt cao, màu trắng lấy từ Kaolin. Chủ đề được yêu thích thể hiện trên gốm Ngưỡng Thiều là những hình hoa lá, cây cỏ, chim thú, cá một số được trang trí bằng những hoa văn hình học, vòng tròn đồng tâm hay hoa văn hình sóng nước.  Tuy nhiên người Ngưỡng Thiều vẫn sử dụng phương pháp dải cuộn, nặn, miết thủ công về sau mới có bàn xoay chậm. Đồ gốm ở Ngưỡng Thiều gồm ba loại đồ gốm, đồ màu đỏ, một màu đỏ thô hoặc màu xám và một phần màu trắng mịn. Có thể cư dân ở đây họ đã biết sử dụng loại đất sét kaolin để tạo độ miết láng trên gốm. Việc đầu tiên được làm bằng đất sét cũng phổ biến, đã sa thải đồng đều cho đến khi nó trở thành màu cam hoặc màu đỏ gạch. Đôi khi các mạch có màu xám hoặc màu đen, nhưng điều này là do sự kiểm soát của lửa. Đồ gốm thô là chỉ đơn thuần là đất sét luyện tốt với cát. Các loại hình phổ biến được sử dụng khá nhiều trong các hộ gia đình, trong số các loại phổ biến trong số đó là bình miệng nhỏ với đáy nhọn, bình, và rất nhiều bát, chậu, ly, bát và bát bồng. Loại hình vò có chân đế là hiếm có hiện nay. Đồ gốm thô được sử dụng chủ yếu để nấu ăn và lưu trữ, trong khi đồ tốt dành cho sử dụng như hộp đựng và bao gồm cả dùng làm đồ tùy táng. Phần lớn bình gốm hình cái bát, thường là các đồ màu đỏ tốt và được sử dụng làm vật dụng cho các lọ lưu trữ thô. Một trong số đó vẫn còn chứa một số loại ngũ cốc đã được xác định là kê. Trên đồ gốm có những mô típ được sử dụng khá phổ biến. Điều này, tuy nhiên, không phải là một đồ dùng thông thường. Loại thứ ba là loại hình khá phổ biến trong văn hóa Ngưỡng Thiều, là một nhóm các đĩa nhỏ, chuyển thể từ các mảnh gốm. Hai trong số đó được tìm thấy bao gồm hai bình gốm còn lại ở vị trí ban đầu của họ một trên tường. Đồ gốm Ngưỡng Thiều giai đoạn này sản xuất một số đối tượng khác bên cạnh các thùng chứa. Nhẫn, vòng xoắn trục chính, thức ăn viên và chân là phổ biến. Một số mảnh vỡ đồ gốm được cắt thành dao cho thu hoạch kê. Các đối tượng thú vị nhất là một nhóm các bài viết bằng phẳng, hình cầu hoặc hình vuông, màu đỏ phạt cứng dán và bị đâm hơn với pin lỗ. Vật liệu khá khó khăn như vậy mà nó có thể được sử dụng như một máy bơm hoặc cọ xát công cụ, điều này chứng tỏ xây dựng khá kỹ. Phần lớn đồ gốm Ngưỡng Thiều được trang trí với các mô hình mà được thêm một số đường ngang từng khúc nhỏ. Từng khúc dòng tâm là phổ biến trên cổ và vai của một bình gốm. Một số vòng đáy của bát được ấn tượng với thiết kế  mô hình. Thiết kế như vậy nhưng vật dính liền nhau được tìm thấy trên các đồ thô, trong khi các lỗ nhỏ hình tam giác và tròn được thực hiện bằng cách chích với một điểm mạnh là phổ biến trên cổ và cơ thể của đồ mầu đỏ. Có một nhóm nhỏ của đồ gốm sơn. Trang trí được thực hiện trong màu đen, với thiết kế hình học đơn giản hoặc phức tạp. Những xuất hiện không chỉ ở vành và trên cơ thể, mà còn bên trong tàu. Các họa tiết bao gồm các yếu tố hình học như zig-zag, các vòng tròn đồng tâm và hình tam giác, lưới mắt cáo, và các loại biến thái động vật như hình người, cá và hình dạng hoa. Khuôn mặt con người, mặc dù thông thường, xuất hiện khá thực tế với mắt, mũi và miệng một cách miêu tả sinh động. Xây dựng các bố cục đề tài trang trí trên đồ gốm dường như để phản ánh các đồ trang trí được tạo ra bởi cư dân ở Ngưỡng Thiều và sự khác biệt trong tạo đồ án hoa văn trên gốm sẽ là khác biệt qua thời gian. Mô hình của các thiết kế hình học xuất hiện trong các hoa văn trên gốm . Thêm vào đó, có một vài mẩu trượt gốm trắng sơn cũng như một số sơn màu đỏ, và một số tròn đáy bát được chạm khắc tại vành miệng, có thể là dấu hiệu của chủ sở hữu. Như vậy, gốm Ngưỡng Thiều với đặc trưng cơ bản của nó là gốm sơn đỏ với bàn tay và sự khéo léo của người thợ đã tạo ra những đồ án hoa văn trên gốm, thổi vào đó những hồn sống từ những đồ gốm thô ban đầu. Chính điều đó đã tạo nên đặc trưng riêng biệt của gốm Ngưỡng Thiều so với gốm của các nền văn hóa đương đại với nó.

[b style="mso-bidi-font-weight: normal;"]Chế độ xã hội[/b]
Phần lớn các nhà nghiên cứu đều cho rằng văn hóa Ngưỡng Thiều ở giai đoạn sơ kỳ, trung kỳ là giai đoạn phồn vinh của chế độ thị tộc mẫu hệ. Chỉ có một số ít cho rằng văn háo Ngưỡng Thiều thuộc chế độ phụ hệ. Các chứng cứ về văn hóa Ngưỡng Thiều thuộc chế độ mẫu hệ là dựa vào bố cục xóm làng, kinh tế - xã hội, hình thức mai táng. Ví dụ như: Nông nghiệp nguyên thủy dùng cuốc, hái lượm, săn bắn bổ sung tình trạng sản xuất còn trình độ thấp với vai trò của người phụ nữ là chủ yếu. Người phụ nữ đảm nhận việc làm gốm, chăm sóc con cái, tính tóan, sắp xếp, tổ chức nội tình thị tộc đã đưa người phụ nữ lên vị trí đáng trọng. Con cái theo họ mẹ, những người sinh sống trong bộ lạc ấy, lấy quan hệ huyết thống để liên kết với nhau. Đây là đặc trưng tiêu biểu của xã hội nguyên thủy.  

[b style="mso-bidi-font-weight: normal;"]Hậu duệ của văn hóa Ngưỡng Thiều – sự phát triển truyền thống gốm đen văn hóa Long Sơn[/b]
Ở vùng đồng bằng ở hạ lưu khu vực sông Hoàng Hà bao gồm các tỉnh như Hồ Nam, Hồ Bắc, Sơn Đông và một phần phía Bắc của An Huy và Giang Tô đã tồn tại một nền văn hóa nổi tiếng với truyền thống gốm đen của hậu kỳ thời đại đá mới ở Trung Quốc là văn hóa Long Sơn. Nền văn hóa này được phát hiện năm 1928 bởi Wu Gin-ding. Nói chung, các cấu trúc trên của làng Long Sơn nơi đầu tiên phát hiện ra văn hóa Long Sơn đã được san bằng qua thời gian. Các khu định cư thường được phủ một sự tích lũy dày của cấu trúc còn lại trong các hình thức sàn ở, nơi đun nấu, hố lưu trữ dưới lòng đất. Các tầng thường là khoảng 4 mét, đường kính với địa tầng lõm ở giữa. Một tấm bê tông với một lớp dày của trái đất pha trộn với những mẩu rơm, cuối cùng làm mịn với một lớp mỏng thạch cao trắng. Vật liệu màu trắng đã được tìm thấy là giống như được sử dụng trong vá mạch đồ gốm, thủ công đôi khi được làm bởi những người cư dân cổ đại ở làng Long Sơn. Nó đã được chuẩn bị từ một số mẫu đá vôi là sản phẩm phổ biến của phù sa sông. Không có nghi ngờ rằng những cấu trúc vòng tròn là tầng ở và dấu vết tròn ở trung tâm phục vụ như là lò sưởi. Dấu vết của lửa là phổ biến trong nó, và bề mặt đất sét đó là sàn nhà. Trong một số trường hợp, tường thạch cao trắng tăng trên bề mặt sàn lên một tầm cao của không ít hơn 1 mét. Đôi khi ở đã được đào bên dưới mặt đất, . Hơn nữa, các tầng chồng lên nhau. Tại di chỉ Houkang nơi phát hiện sự hòa lẫn xáo trộn tầng văn hóa cũng có sự xuất hiện của văn hóa Long Sơn. Nó cũng là phổ biến để tìm thấy chúng hiện có ở bên cạnh, gần gũi với nhau. Họ cho thấy rõ ràng rằng ngôi làng bị chiếm đóng vào thời gian dài. Một dạng phổ biến của phạm vi nấu ăn trong các hình thức của một bếp, thuôn dài hình dạng, với ống hút còn một số hoạt động song song với trục dài hơn, và một ngọn lửa giữ ở một đầu. Làng Long Sơn dân gian cũng xây dựng hố dưới lòng đất, hình chữ nhật hoặc hình tròn, cho việc lưu trữ lương thực thực phẩm. Như vậy họ đã sản xuất được nhiều.
Người Long Sơn được chôn cất thành khu mộ táng tập thể. Một số lượng lớn chôn cất đã được khai quật tại Liang-cheng-chen Jih-chao, Sơn Đông. Cơ thể thường được đặt trong một hố hình chữ nhật đơn giản trong một vị trí mở rộng, với phía bụng phải đối mặt với trở lên, và người chôn hướng đầu chỉ về phía đông. Chỉ trong một vài trường hợp cơ thể được tìm thấy ở một vị trí dễ bị đặt ngược, nằm úp khuôn mặt xuống đất. Người chết được chôn theo nhiều đồ tùy táng bao gồm một vài chậu, hoặc chén, và đôi khi một vài dụng cụ đá hoặc các đồ tạo tác bằng ngọc bích. Kỹ thuật chế tác đá của Long Sơn cũng khá phát triển sản xuất thực hiện được, trên toàn bộ, tương tự như những cư dân của Ngưỡng Thiều. Đánh bóng và mài các kỹ thuật cơ bản được sử dụng, mặc dù vậy vết sứt mẻ và vỡ trong quá trình sử dụng cũng được nhận thấy. Thực hiện phổ biến bao gồm các đầu mũi tên lá hình trụ hoặc hình lăng trụ và spearheads, dao hình chữ nhật và bán âm lịch, liềm, nhẫn, bôn và trục với mặt cắt ngang hình trứng hoặc hình thang, rìu bằng phẳng, trục vai, đánh bóng bằng đá sa thạch, mài và querns. Rìu nhỏ của thợ mộc Các loại xảy ra thường xuyên hơn các loại rìu, trong khi một số lượng lớn của dao và trục bằng phẳng đục. Một vài lá hình đầu mũi tên đá lửa đã được thực hiện bởi sứt mẻ. Một số các vật liệu tốt greenstone, nhận biết như ngọc bích. Các đầu mũi tên lăng trụ hình trụ có lẽ là loại phổ biến nhất còn sót lại từ nền văn hóa này.
Ngành công nghiệp xương Lungshan dường như đã được phát triển hơn so với việc đá. Các loại đặc biệt là văn hóa thic các đầu mũi tên lăng trụ hình trụ, điểm lao đâm, đục, mảnh nhọn và xi lanh đục. Hai loại này có thể được sử dụng như tàu con thoi dệt. Các hiện vật phổ biến là lá hình đầu mũi tên, dùi, kẹp tóc, kim, xương và sừng nêm.
Đục là loại hình công cụ đá được sử dụng nhiều, qua kiểm định và nghiên cứu cho thấy khoan là một kỹ thuật phổ biến. Một số lượng lớn sừng hươu cũng đã được chuyển thể thành dùi, rìu, đục và được đánh bóng. Những người Long Sơn cũng thực hành một loại tín ngưỡng nguyên thủy. Họ đã sử dụng con bò và con nai, và các vết nứt, trong đó cung cấp cho các điềm thu được bằng cách thiêu đốt bề mặt của xương trực tiếp, hoặc bằng cách áp dụng một thanh ghi ra một vòng xoắn trước đó được thực hiện trong xương của động vật săn bắn được
.
Các loài nhuyễn thể cũng được chế tác, đâycũng là một đặc tính đặc biệt của nền văn hóa Long Sơn. Vỏ nhuyễn thể tự nhiên thường được sử dụng như vòng cổ. Vỏ động vật thân mềm nước ngọt cung cấp các vật liệu để chế tác đồ trang sức, và họ đã được thực hiện vào tất cả các loại đồ tạo tác. Các loại phổ biến là hình chữ nhật, dao và hình lá hoặc cưa với một hoặc hai kỹ thuật. Những loại hình khác là dao và chọc hình tam giác và hình thang, hình lưỡi liềm với một mặt
mịn hoặc cắt cạnh có răng cưa, lá hình đầu mũi tên, nhẫn và vòng đeo tay, chân và mặt dây chuyền.
Các đặc trưng nhất của nền văn hóa
Long Sơn là đồ gốm. Nó có thể được phân biệt với các sản phẩm tạo đặc biệt của Ngưỡng Thiều và Hồng Sơn. Phần lớn đồ gốm được làm bằng một màu đen dán tốt, được chuẩn bị từ đất sét thu được trên một số lượng rất nhỏ đồng bằng và có chứa cát mịn, nướng vào đồ màu đen hoặc màu đá cứng. Các màu chủ đạo là màu đen và nó được mô tả như là đồ gốm đen để phân biệt nó với các đồ màu đỏ của Ngưỡng Thiều và đồ màu xám của Hồng Sơn. Các ví dụ tốt nhất là dùng đất đen tất cả thông qua toàn bộ chiều dày và đánh bóng trên bề mặt. Nó đôi khi trở nên nhạt màu nâu đỏ trong màu sắc khi nó được nướng trong một bầu không khí oxy hóa. Loại thứ hai của đồ gốm được làm bằng đất sét, nhưng được tôi luyện với một số lượng lớn cát, và đun vào một màu nâu thô hoặc đồ màu xám đen tối. Điều này được dành chủ yếu cho tàu nấu ăn. Ngoài ra còn có một số ít các phần của các thiết bị màu trắng cứng, lên, chỉ khoảng 1% của đồ gốm. Các hình dạng chủ yếu là những người chân-ca
́i bình đựng nước. Loại đồ trắng tinh khiết này là tỷ lệ cao, thực hành thông thường là cho các tàu lớp phủ trắng. Về mặt kỹ thuật ngành công nghiệp đồ gốm phát triển rất cao. Loại đất sét này được chuẩn bị kỹ lưỡng và phân loại để sử dụng trong việc làm của các tầng lớp khác nhau của tàu. Các chậu tốt nhất luôn được làm bằng bột tốt nhất. Người thợ gốm biết việc sử dụng của bánh xe, mà có lẽ đã tách bởi một cây gậy. Xương gốm mỏng và bề mặt cao bóng chỉ có thể được làm bởi một số quá trình chế tác gốm. Các nguyên tắc của quá trình oxy hóa và giảm bắn, và thực hành khéo léo với kết quả khả quan. Họ khám phá chất lượng nhựa của đất sét bằng cách mô hình gốm, một số được tạo tác thành loại hình như là
lục lạc và đồ chơi thu nhỏ.
 Các hình dạng cơ bản là các bát, cốc,
bình, nồi, chân-ca
́i bình đựng nước, tách và những đồ dùn khác. Các loại hình gốm thường xuất hiện chủ yếu là phân đoạn với một mức độ nhất định có cạnh. Một số hình dạng giống như ở các loại hình phổ biến ở Ngưỡng Thiều, chẳng hạn như nồi, chiếc vò hai quai, chai với đáy nhọn vắng mặt ở giai đoạn Long Sơn điển hình, trong khi đó các loại hình này lại phổ biến ở giai đoạn sau , trong hình dạng của các cốc, ly có chân đế, bình đựng nước, nồi nấc là không rõ ràng. Trong nền văn hóa Ngưỡng Thiều, loại hình có chân đế được biết đến, nhưng không bao giờ đạt được số lượng lớn. Bên cạnh đó, sự phổ biến của loại đồ gốm bằng phẳng và hơi lõm, sự co lại đáng kể của các bức tường ở gần phía dưới tần số cao của loại hình đồ gốm thu nhỏ, phổ biến sự xuất hiện của dây đeo hoặc dây thừng xử lý cũng như mở và ống vòi, đục lỗ trên các bệ cốc, và các lỗ và cách điệu hình động vật hoặc ma quỷ, mặt nạ trên đôi chân của chân máy - đây là một số tính năng nổi bật của gốm sứ Long Sơn
.
Sự khác biệt nổi bật nhất, tuy nhiên, có thể nhận thấy trong các
h trang trí sứ. Không có chậu nào trong văn hóa Long Sơn được tô. Bề mặt được còn lại trong điều kiện tự nhiên của nó, ngu si đần độn và thậm chí cả nghèo nàn. Tuy nhiên, tất cả các đồ màu đen và một tỷ lệ phần trăm đồ màu xám được đánh bóng trên bề mặt ngoài. Một số các loại hình đều được đánh bóng trên phần trên của bề mặt bên trong. Đánh bóng sừng đã đề cập ở trên có thể đã được sử dụng trong quá trình này. Thợ gốm của Long Sơn dường như đã được quan tâm nhiều hơn trong việc tạo ra hình dạng đẹp và phức tạp, hơn bề mặt trong của xương gốm. So với sơn chậu của Ngưỡng Thiều, gốm Long Sơn được trang trí khá nhiều chủ đề
.
Các hình thức phổ biến nhất của vật trang trí là các loại dây, mat-và giỏ lần hiển thị. Đây là những
hình ảnh thường xuyên nhất được tìm thấy trên phần dưới của gốm, và có thể đã được hoàn toàn chức năng trong tự nhiên, kể từ khi được lưu giữ như một vật trang trí chỉ là một suy nghĩ sau. Đường dây và xương sườn thực hiện trên đồ gốm, trong khi dán vẫn còn mềm, là những loại đặc trưng của đồ trang trí. Họ được bố trí vào các khu, và các vết mổ được thực hiện với một dụng cụ sắc nhọn hoặc thẳng thừng. Các mô típ phổ biến là hình tam giác, nở vành đai, các nhóm đường song song thẳng đứng và xiên, và dòng yêu thương. Liang-cheng- chen một số mẫu thiết kế phức tạp và tự nhiên được tìm thấy. Đôi khi các mô hình vuông và vòng tròn cũng được sử dụng, và đã được thực hiện bằng cách đóng dấu. Ứng dụng và thụt vào dải đất sét thường được sử dụng như là rặng núi được đặt theo chiều thẳng đứng trên đôi chân của chân máy, hoặc theo chiều ngang trên vai đồ gốm, kỹ thuật chấm dải hoặc khắc vạch cũng được làm rất tỉ mỹ.

Họ đã bổ sung chế độ ăn uống thực vật của họ với thịt từ động vật trong nước của họ, cá và vỏ cá
đánh bắt được ở ven sông. Xương gia súc, cừu, lợn, ngựa, chó, hươu, nai, thỏ và cá rất phổ biến trong các tầng văn hóa khai quật được. Đánh giá từ các loại khác nhau của các dụng cụ đã được thực hiện và số lượng lớn các loại hình công cụ được sử dụng, họ dường như đã đạt đến một số loại chuyên môn trong hàng thủ công và nghề nghip của họ. Niên đại của nó là khoảng 1500 BC.

[b style="mso-bidi-font-weight: normal;"]Văn hóa Ngưỡng Thiều trong nền cảnh đồ đá mới của Trung Quốc:[/b]
Nền văn hóa của hậu kỳ đá mới đã được thiết lập vững chắc ở Trung Quốc nằm ở lưu vực của thung lũng sông Hoàng Hà ở miền bắc Trung Quốc vào đầu của thiên niên kỷ 7 trước Công nguyên, nằm trên bờ và vùng đồng bằng ngập lũ của các nhánh sông chảy chậm. Đặc biệt những gì còn sót lại là những bằng chứng đáng ghi nhận có thể phác họa lại bức tranh đời sống của cư dân tiền sử Trung Quốc ở hậu kỳ đá mới ở khu vực sông Hoàng . Các tỉnh Thiểm Tây, Hà Nam, Hà Bắc, Sơn Tây và các tỉnh Cam Túc, những nông dân đầu thời kỳ đồ đá mới sống ở ngôi làng của mình có kênh mương bao bọc xung quanh.Mối liên quan và tương đối không khác biệt nhau lắm từ khoảng 2.000 năm, hoặc bằng cách bắt đầu của thời kỳ đồ đá mới ở Trung Quốc , cuộc sống của những cư dân trong vùng thung lũng sông Hoàng Hà đã trải qua những thay đổi đáng kể. Họ sống trong các khu định cư thậm chí còn nhỏ gọn hơn, phân phối khu vực và tổ chức nội bộ trong đó cho thấy sự gia tăng cường độ của sự tương tác các quan hệ gia đình và tổ chức lại cơ bản của cấu trúc trước đây kinh tế và xã hội. Không trễ hơn so với giữa ba thiên niên kỷ trước Công nguyên, tổ chức lại này đã tạo điều kiện cho sự xuất hiện của các hình thái xã hội . Loại hình "Chiefdoms" hay còn gọi là “Tiểu quốc nhỏ” đã theo sau bởi sự phổ biến rộng rãi của các cấu trúc quy mô lớn hơn, hình thái xã hội phức tạp hơn, có sự phân chia tầng lớp giàu nghèo và hình thái xã hội ở giai đoạn muộn này chính là bước tiến để Trung Quốc bước vào xã hội có nhà nước.. Một số quá trình chuyển đổi kinh tế và xã hội trọng điểm được xác định và thảo luận trong bối cảnh của mô hình chim nhạn dài của sự thay đổi xã hội. Hơn nữa chú ý đến những thay đổi này cuối cùng có thể cải thiện sự hiểu biết của chúng ta về thời tiền sử phát triển sau thời kỳ đồ đá mới và xã hội thời kỳ đồ đồng trong lĩnh vực này và tiến hóa xã hội ở nơi khác. Việc khám phá và nghiên cứu hệ thống của thời kỳ đồ đá mới sớm được giải quyết sau khi phát hiện ra nền văn hóa Bùi Lý Cương được coi là một trong những thành tựu quan trọng nhất của khảo cổ học Trung Quốc trong những năm 1970 và 1980. Tiếp đến thời gian này, văn hóa Ngưỡng Thiều được phát hiện bởi Johan Gunnar Andersson trong cuối thập niên 1910 và đầu những năm 1920 được coi là người đầu tiên trong một khu vực truyền thống được xem như là "cái nôi của nền văn minh Trung Quốc". Khai quật các khu định cư của làng Ngưỡng Thiều thời gian trước đã bị đẩy trở lại nguồn gốc của cuộc sống nông nghiệp định canh định cư trong các thung lũng sông Hoàng Hà khoảng 7000 trước Công nguyên, từ đó thảo luận của chúng ta về sự tiến hóa của cuộc sống làng quê có bắt đầu, một vài biến thể của xã hội trước Ngưỡng Thiều đã được xác định bao gồm cả Bùi Lý Cương , Hồng Sơn, Đại Vấn Khẩu. Bởi vì các nền văn hóa đương đại và có liên quan với nhau, cùng mang một cơ chế, một khuôn mẫu xã hội và kinh tế cơ bản và điều đó tất cả chỉ đơn giản là trong lòng văn hóa "Bùi Lý Cương". Mèo, chó, lợn, và có thể con gà đã được cư dân thuần dưỡng và nuôi chủ yếu của thời kỳ này, cây lương thực cũng đã được trồng tương đối nhiều tại một số khu định cư ở phía nam. Một số địa điểm đã mang lại số lượng hạt giống còn lại rễ cây và các hố lưu trữ ngũ cốc, cũng như công cụ phục vụ cho nông nghiệp cho thấy một mức độ cao của việc sản xuất nông nghiệp ở giai đoạn này khá ổn định. Mặc dù việc nghiên cứu đồng vị ổn định xương người và các xương khác cho thấy rằng nguồn tài nguyên hoang dã vẫn còn nổi bật trong chế độ ăn uống, tuy nhiên quá trình sản xuất lương thực rõ ràng đã được sản xuất theo cách mà cư dân một vài ngàn năm đầu của thời kỳ văn hóa Bùi Lý Cương. Những bằng chứng khảo cổ học thực nghiệm với thực vật và động vật, thuyết định cư, và thay đổi công nghệ trước khi tới 7000 trước Công nguyên ở miền Bắc Trung Quốc đã bắt đầu tích lũy, nhưng kiến ​​thức của chúng ta về những thay đổi hành vi và các mối quan hệ liên kết chúng lại với nhau vẫn còn rất mờ nhạt thaamh chí chưa đầy đủ những chứng cứ. Thông thường 1-2 hecta, nhưng đôi khi lớn khoảng 8 hecta, làng Bùi Lý Cương khoảng thời gian đã được bao gồm như nhiều như 50 nhỏ (thường là ít hơn mười mét vuông trong khu vực) lá lợp mái bùn sàn nhà ở. Ngôi làng nhỏ nhất bao gồm chỉ có một vài gia đình, nhưng các làng lớn người ta có thể có được nơi sinh sống bởi một trăm đến ba trăm người đến giai đoạn cuối của giai đoạn Bùi Lý Cương (6000-5000 BC) diện tích của làng càng mở rộng nằm trong 219 km vuông. Chỉ có một ngàn năm sau khi bắt đầu cuộc sống nông nghiệp đầy đủ, cư dân thực sự sống  định canh định cư, mật độ dân số khu vực (tại một làng trung bình mỗi 30 cây số vuông) là cao đáng ngạc nhiên. Những kết quả này, khi kiểm định với hệ thống thu thập dữ liệu cho các khu vực bên ngoài khu vực khảo sát Yi-Lou, cho thấy rằng có một sự thay đổi trong vị trí giải quyết từ các thiết lập cao trong giai đoạn đầu của thời kỳ cuối thung lũng sông và ruộng bậc thang trong sự thay đổi cuối có thể cho biết cư dân bắt đầu sử dụng nhiều hơn các vùng đất thấp tưới cho nông nghiệp. Mỗi cộng đồng xuất hiện đã được tự trị và sống tự cung tự cấp, tuy nhiên các làng này đã có sự trao đổi những sản phẩm của mình bằng cách đổi, chưa xuất hiện tiền tệ. Thông tin về tổ chức chính trị xã hội của các làng định canh định cư nông nghiệp, hiện nay, rất hạn chế. Trong số ít những ngôi làng này đã được ít nhất một phần được khai quật. Mỗi khu vực có thể có đại diện và  diện tích được mở rộng các nhóm gia đình hoặc dòng truyền thống kế thừa. Như William Haviland quan sát các xã hội ở đây thì ông cho biết các làng này bao gồm các gia đình mở rộng thường được phản ánh trong sự sắp xếp nhà ở là hợp chất gia đình mở rộng, trong đó mỗi hạt nhân ... gia đình có nhà riêng của mình. Trong trường hợp này nhà của người đứng đầu của hộ gia đình thường chiếm một vị trí đặc biệt trong hợp chất, nó là hơi áp đặt hơn so với các nhà khác, hoặc cả hai ". Sự đa dạng của hiện vật tiện dụng thu hồi từ các khu dân cư lớn nhất trong từng lĩnh vực có thể chỉ ra rằng những cũng phục vụ như là địa điểm sản xuất dựa trên hợp tác xã. Hố lưu trữ thực phẩm đã được phân bố đều giữa các gia đình trong cùng khu vực sản xuất của nó, vì vậy các tài nguyên họ có thể cũng đã được chia sẻ tự do giữa các gia đình có liên quan. Hiện nay, không có bằng chứng cho việc trao đổi hàng hoá giữa các khu vực.
Người Ngưỡng Thiều giai đoạn đầu đã chôn cất người chết bằng cách đã được đặt trong và xung quanh nhà ở cá nhân, nhưng trong giai đoạn sau này, mỗi khu vực dân cư có liên quan với nghĩa trang chính thức của riêng mình. Mặc dù đã được khai quật, nghĩa trang, giai đoạn muộn Bùi Lý Cương tương tự chia thành hai hoặc nhiều khu vực riêng biệt, mỗi nơi có ba mươi mộ hay nhiều ngôi mộ có chứa đồ tùy táng. Việc sử dụng bãi chôn lấp nhiều thế hệ bắt đầu trong giai đoạn cuối Bùi Lý Cương cho thấy rằng lãnh thổ có thể đã được thể hiện trên hình thức mở rộng gia đình, chứ không phải là cấp thôn bản, quan hệ sở hữu đất đai của cư dân .
Các ngôi mộ được chôn theo với đầy đủ các đồ dùng nghi lễ (như sáo xương và lục lạc ghi trên vỏ rùa) thích hợp với mỗi gia đình ở giai đoạn sau của nghĩa trang chính thức. Những nghĩa trang này có thể đại diện cho nơi nghỉ ngơi của dòng truyền thống kế thừa hoặc các thành viên trong gia đình. Hầu hết các kích thước của các khu mộ táng gần như được xây dựng tương tự nhau, và có rất ít biến đổi trong số lượng thi thể được chôn trong khu nghĩa địa. Nghiêm trọng nhất của giai đoạn Bùi Lý Cương sớm là đơn táng, nhưng ở phần sau của thời kỳ này, chôn cất song táng hay đa táng trở nên phổ biến hơn, có thể là chôn nhiều thế hệ cùng huyết thống. Thuần hoá của động vật như chó và lợn là một vấn đề nhỏ so với thuần hoá các loại cây trồng. Trồng cây lâu năm của các ngư dân hái lượm cộng đồng có thể đã dần dần bắt đầu để sử dụng cho thực phẩm có thể được thay thế bởi cây giống hàng năm có thể thường xuyên được trồng và thu hoạch trong thời gian ngắn hạn và có thể canh tác trồng trọt cây trồng. Vào thời gian này khí hậu khá ấm áp và  ẩm của Trung Quốc đã không thay đổi chuyển sang khí hậu khô cằn và lạnh lẽo như ngày nay. Thời kỳ đồ đá mới nông nghiệp có thể bắt đầu dễ dàng nhất trong biên khu vực rừng ở vùng núi cho đến những đồng bằng cỏ được canh tác và một sự phong phú của thực vật và động vật có thể duy trì cuộc sống của con người.
Những khám phá tại hàng ngàn các dhi chỉ khảo cổ học thời kỳ đồ đá mới cho thấy một khởi đầu của ngành nông nghiệp định cư dưới khu vực phía nam của sông Hoàng Hà, trên biên giới giữa các vùng cao nguyên rừng và đầm lầy vùng đất thấp. Ví dụ, dân làng của Banpo (nay là thành phố Tây An) khoảng 4.000 Bc sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp trồng trọt kê bổ sung thêm bằng cách săn bắn và câu cá. Họ đã sử dụng cây gai dầu đối với vải. Họ được phân nhóm trong các cụm các đơn vị quan hệ họ hàng. Dân làng đã nuôi lợn và chó là động vật thuần hóa chính của họ và những ngũ cốc của họ được đựng trong lọ gốm trang trí với cá, động vật. Nhưng gốm này "sơn" (gọi là Ngưỡng Thiều) là văn hóa đặc trưng của Bắc Trung Quốc đã được song hành với nền văn hóa đương đại được tìm thấy tại các địa điểm trên bờ biển phía đông nam và Đài Loan và ở dưới thung lũng Dương Tử, nơi mà nền văn hóa lúa gạo đã bắt đầu. Sau truyền thống gốm đỏ của Ngưỡng Thiều
đồ phủ gốm sơn đã được tìm thấy với loại hình đồ gốm, mỏng hơn bóng đen (gọi là Long Sơn) phân bố rộng khắp Bắc Trung Quốc, thung lũng Dương Tử, và thậm chí cả bờ biển phía đông nam, cho thấy một sự mở rộng lớn của nông nghiệp thời kỳ đồ đá mới với nhiều tiểu văn hóa trong khu vực. Vì vậy, có vẻ như thời kỳ đồ đá mới của Trung Quốc đã phát triển ở nhiều trung tâm từ nguồn gốc từ thời đại đá giữa. Một thành tựu khác của thời kỳ đồ đá mới Trung Quốc là sản xuất lụa, việc trồng dâu nuôi tằm đã được thực hành trong nền kinh tế nông nghiệp của Trung Quốc trong suốt lịch sử. Như vậy, văn hóa Ngưỡng Thiều có thể nói là tiền đề cho khởi đầu của văn minh Trung Quốc ở giai đoạn sau. Đặc biệt là những giá trị của nó đóng góp rất nhiều vào văn hóa Ân – Thương.


[b style="mso-bidi-font-weight: normal;"]Tổng Kết[/b]
Qua quá trình tìm hiểu và nghiên cứu văn hóa Ngưỡng Thiều đã mở ra những nhận thức mới. Đặc biệt là phác họa về bức tranh đời sống cư dân Ngưỡng Thiều trong quá khứ - những nhận thức ghi nhận được đóng góp rất nhiều về vấn đề cần giải quyết. Đầu tiên, cư dân Ngưỡng Thiều đã có cuộc sống khá ổn định, định canh định cư để phát triển nền kinh tế nông nghiệp, họ quầy tụ lại sống trong những ngôi làng của mình, họ có tín ngưỡng của mình, có nhà cộng đồng là nơi giải quyết những vấn đề của người dân cũng như để sinh hoạt văn hóa, thờ cúng thần linh. Hai là kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, đặc biệt là trồng cây lương thực kê, ngũ cốc, đời sống đầy đủ và họ đã biết tích trữ lương thực thừa, không còn mưu sinh của cuộc sống của xã hội nguyên thủy với hình thức săn bắt hái lượm nữa. Đời sống ổn định là cơ sở vững chắc để phát triển tư duy cũng như làm cho họ trở nên hiểu biết hơn, văn minh hơn. Không còn mông muội dã man của thời kỳ trước. Có thể nói văn hóa Ngưỡng Thiều là một nền văn hóa rất tiêu biểu đại diện cho thời hậu kỳ đá mới của Trung Quốc. Văn hóa Ngưỡng Thiều đã là đỉnh cao của sự phát triển và là cội nguồn của văn minh Trung Quốc, những thành tựu mà Ngưỡng Thiều đã đạt được là thành tựu đáng ghi nhận để giai đoạn sau tiếp nhận và phát triển cao hơn nữa. Nói tóm lại, văn hóa Ngưỡng Thiều là đỉnh cao của văn hóa hậu kỳ đá mới của thế giới.

[b style="mso-bidi-font-weight: normal;"]TÀI LIỆU THAM KHẢO[/b]
Chêng Têkun (1959), Archaeology volume I (Prehistory in China), Cambrige.
T. Douglas Price, G.M.Feinman (2001), Images of the past (third edition), Mayfield Publishing Company.
John King Fairbank (1992), China A new history, Harvard university Press.
Wontack Hong (2005), Yangshao culture and Tibet-Chinese Speech community of Hua-Xia people, Seoul University Press.
Christian E.Peterson and Gideon Shelach, Evolution of early Yangshao period (PDF)
Nguyễn Gia Phu, Nguyễn Huy Quý (2007), Lịch sử Trung Quốc, NXB Giáo dục.
Võ Mai Bạch Tuyết (2006), Lịch sử Trung Quốc, NXB Đại học quốc gia.
W.Sott Morton, C.M Lewis (2008), Lịch sử và văn hóa Trung Quốc, NXB tổng hợp Hồ Chí Minh.
  Một số trang web tham khảo

diepkhaoco52
Member
Member

Tổng số bài gửi : 25
Join date : 03/12/2011
Age : 26
Đến từ : Cam Lâm - Khánh Hòa

Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang

- Similar topics

 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết